Lịch công tác tuần

Liên kết website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay54
mod_vvisit_counterHôm qua823
mod_vvisit_counterTổng lượt truy cập1354920

Văn bản mới nhất

Liên kết UBND tỉnh



Sở Tài chính Bình Định báo cáo Bộ Tài chính tình hình thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm năm 2011 theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Thực hiện công văn số 5263/BTC-HCSN ngày 19/4/2012 của Bộ Tài chính về việc báo cáo tình hình thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 7/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Sở Tài chính Bình Định thực hiện tổng hợp tình hình triển khai và kết quả thực hiện năm 2011 trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:
- Kết quả triển khai và thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP:
Trên địa bàn toàn tỉnh có 63/75 đơn vị thực hiện theo NĐ 130 Chính phủ (các đơn vị chưa thực hiện:  8 Ban thuộc Khối đảng, Hội Chữ thập đỏ, Hội Văn học nghệ thuật; Ban An toàn giao thông, Văn phòng Điều phối chương trình nông thôn mới; khối huyện thực hiện 11/11), theo đó: biên chế 2.616/2.784 tiết kiệm được 169 biên chế; kinh phí thực hiện giao tự chủ là 166.555 triệu đồng, tiết kiệm được 14.201 triệu đồng.
-    Kết quả triển khai và thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ:
Trên địa bàn tỉnh có 181/181 đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo NĐ 43 Chính phủ (khối tỉnh 170 đơn vị, khối huyện là 11huyện, thị xã, thành phố), theo đó: Tổng kinh phí thực hiện tự chủ là 1.144.274 triệu đồng ( khối tỉnh 557.790 triệu đồng, khối huyện là 586.484 triệu đồng), kinh phí tiết kiệm được là 109.244 triệu đồng ( khối tỉnh là 102.150 triệu đồng, khối huyện là 7.094 triệu đồng).
Dưới đây là tình hình triển khai, kết quả đạt được, những kiến nghị, đề xuất về việc thực hiện Nghị định 130/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ:
A. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 130/2005/NĐ-CP NGÀY 17/10/2005 CỦA CHÍNH PHỦ:
1/ Về tình hình triển khai:
- Cơ quan cấp tỉnh: 
  + Số cơ quan, đơn vị cấp tỉnh:  64 đơn vị (không kể các hội, đoàn thể
                          hỗ trợ kinh phí)
  + Số cơ quan, đơn vị giao tự chủ:    52/64 đơn vị
  + Số cơ quan, đơn vị xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ: 52/64 đơn vị
Các cơ quan hành chính thuộc tỉnh chưa thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP:  8 Ban thuộc Khối đảng, Hội Chữ thập đỏ, Hội Văn học nghệ thuật; Ban An toàn giao thông, Văn phòng Điều phối chương trình nông thôn mới.
- Cơ quan cấp huyện, thành phố: 
Tổng các đơn vị huyện, thị xã, thành phố là 11 đơn vị. Tất cả 11 đơn vị huyện, thị xã, thành phố đã triển khai thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP
2/ Về biên chế:
 - Tổng số biên chế được giao năm 2011:  2.784 người
  + Khối tỉnh:      1.554 người
  + Khối huyện, thành phố:    1.230 người
 - Số biên chế có mặt:      2.616 người
+ Khối tỉnh:      1.454 người
  + Khối huyện, thành phố:    1.162 người
 - Số biên chế tiết kiệm được:        169 người
  + Khối tỉnh:         100 người
+ Khối huyện, thành phố:         69 người
 3/ Về kinh phí quản lý hành chính được giao:
 Khối tỉnh:
 Tổng chi quản lý hành chính khối tỉnh năm 2011:  157.231 triệu đồng
 + Kinh phí giao thực hiện tự chủ:         95.334 triệu đồng
 + Kinh phí không giao tự chủ:         61.897 triệu đồng
 Kinh phí tiết kiệm trên tổng giao tự chủ:       10.386 triệu đồng
 Phân phối sử dụng kinh phí tiết kiệm được:
+ Chi tăng thu nhập:                 9.658 triệu đồng  + Chi các Quỹ theo quy định:            645 triệu đồng
 
Kết quả thu nhập tăng thêm:
 - Số đơn vị không chi thu nhập tăng thêm:  03 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1 lần:       8 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 0,1 đến dưới 0,2 lần: 23 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 0,2 đến dưới 0,3 lần: 12 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 0,3 đến dưới 0,4 lần:   2 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 0,4 đến dưới 0,5 lần:   1 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 0,5 đến 1 lần:      3 đơn vị
+ Người có thu nhập tăng thêm cao nhất:  5.928.000 đ/người/tháng
+ Người có thu nhập tăng thêm thấp nhất:     23.834 đ/người/tháng
Khối huyện:
Tổng kinh phí giao tự chủ năm 2011:     71.221 triệu đồng
Tổng kinh phí tiết kiệm:         3.815 triệu đồng
Bình quân tiết kiệm:          3.283.039 đồng/người/năm
 
Nhìn chung, kết quả giao quyền tự chủ cho các đơn vị hành chính nhà nước đã khẳng định được chủ trương chính sách cải cách tài chính hành chính công của Chính phủ là phù hợp, là động lực để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức cho cán bộ, công chức trong các đơn vị hành chính nhà nước, tạo được sự thống nhất trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện ở các ngành, các cấp trong việc triển khai thực hiện Nghị định 130 của Chính phủ trong công cuộc cải cách tài chính hành chính công của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước chủ động trong việc sử dụng biên chế, tài sản và kinh phí nhà nước giao một cách hợp lý.
Việc thực hiện chế độ tự chủ theo Nghị định 130 của Chính phủ đã đi vào nề nếp và ổn định. Các đơn vị đã xây dựng Phương án chi và Quy chế chi tiêu nội bộ, thực hiện công khai tài chính, có biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực hiện Phương án chi và Quy chế chi tiêu nội bộ, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng lao động, trang thiết bị và kinh phí tại các ban, phòng trong cơ quan, đơn vị, góp phần  nâng cao được hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí, mang lại khoản kinh phí tiết kiệm chi tăng thu nhập cho cán bộ công chức.
Hiện nay, mức thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức tuy còn thấp, hầu hết mức thu nhập tăng thêm dưới 0,3 lần, song cũng đã phát huy được tính dân chủ, nâng cao được tinh thần trách nhiệm và sự gắn kết công việc của cán bộ công chức với cơ quan, đơn vị, động viên được tinh thần an tâm công tác và cải thiện được một phần đời sống của cán bộ công chức tại các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước.

B.TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 43/2006/NĐ-CP NGÀY 25/4/2006 CỦA CHÍNH PHỦ :

1/ Về tình hình triển khai:
Khối tỉnh:
Tổng số đơn vị sự nghiệp công lập  : 170 đơn vị,
 Trong đó:
- Số đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo :   75 đơn vị
- Số đơn vị sự nghiệp y tế   :   38 đơn vị
- Số đơn vị sự nghiệp văn hóa thông tin :     8 đơn vị
- Số đơn vị sự nghiệp thể dục thể thao  :     2 đơn vị
- Số đơn vị sự nghiệp kinh tế   :   38 đơn vị
- Số đơn vị sự nghiệp khác   :     9 đơn vị
 
Tổng số đơn vị đã giao tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP:
 - Phân loại:
+Đơn vị loại I tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động       : 26 đơn vị
+Đơn vị loại II tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động    : 90 đơn vị
+Đơn vị loại III do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí         : 45 đơn vị
+Đơn vị chưa giao tự chủ          :   9 đơn vị

 - Kinh phí:
     + Kinh phí tự chủ đối với đơn vị tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động là: 141.423 triệu đồng. 
           + Kinh phí Ngân sách nhà nước cấp thực hiện tự chủ:
           * Đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động:    362.172 trđ
          * Đối vơi đơn vị NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động: 54.195 trđ
 
  Khối huyện:
Về số lượng đơn vị thực hiện:
 Tổng các đơn vị huyện, thị xã, thành phố là 11 đơn vị. Tất cả 11 đơn vị đã triển khai thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP.
 Kinh phí Ngân sách nhà nước cấp: 586.484 triệu đồng
 
2/ Kết quả thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp công lập:
 Tình hình xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của các đơn vị sự nghiệp:
Kết quả giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sự nghiệp công lập chủ động trong việc sử dụng biên chế, tài sản và kinh phí nhà nước một cách hợp lý, tăng cường khai thác nguồn thu, thu đúng, thu đủ để đảm bảo yêu cầu hoạt động của đơn vị, phát triển và mở rộng các hoạt động dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú hơn, nâng cao được chất lượng dịch vụ, đầu tư thêm được cơ sở vật chất, nhất là đầu tư thêm trang thiết bị kỹ thuật y tế cao phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đầu tư cơ sở hạ tầng và phương tiện vận tải để phục vụ nhu cầu đào tạo chuẩn hóa bằng cấp lái xe ô tô cho người tham gia giao thông, liên kết đào tạo với các trường đại học, dạy nghề trong và ngoài tỉnh, …
Tất cả các đơn vị được giao quyền tự chủ theo Nghị định 43 đều thực hiện xây dựng Phương án chi và ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ, định mức chi tiết chi khoán cho một số nội dung chi cụ thể như: văn phòng phẩm, vật tư, công cụ, dụng cụ, điện thoại, công tác phí, nhiên liệu, …; thực hiện công khai tài chính; triển khai thực hiện Phương án chi đã xác lập; đăng ký thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô tham nhũng; sắp xếp, bố trí lại lao động hợp lý, phân công phân nhiệm cụ thể, rõ ràng đối với người lao động.
Trong quá trình thực hiện, căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao và khả năng, nhu cầu thực tế, các đơn vị đã chủ động điều chỉnh, bổ sung kịp thời Phương án và Quy chế chi để đáp ứng được nhu cầu phát sinh trong từng thời điểm; định kỳ thanh tra, kiểm tra chéo nội bộ đối với việc chấp hành quy chế chi tiêu nội bộ, công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tham ô tham nhũng tại các phòng, ban trong đơn vị. Một số cơ quan, đơn vị đã xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của viên chức và người lao động, tiến hành đánh giá, xếp loại dựa vào hiệu quả công việc, lấy kết quả bình bầu xếp loại làm căn cứ phân phối thu nhập tăng thêm.
Qua đó góp phần nâng cao được hiệu suất lao động, trang thiết bị, máy móc, hiệu quả sử dụng kinh phí, nhằm đem lại khoản tăng thu nhập cho cán bộ công chức tuy không lớn song cũng đã phần nào động viên được người lao động nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính dân chủ, sự gắn kết trong hoạt động của người lãnh đạo và người lao động trong đơn vị.
Nhìn chung, việc thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 43 của Chính phủ đã dần dần đi vào nề nếp, ổn định và chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Tình hình huy động vốn:
Qua nhiều năm triển khai cơ chế tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-Cp của Chính phủ, đến nay chỉ có 20/173 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành y tế thực hiện việc huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho các loại hình hoạt động dịch vụ y tế tại đơn vị với tổng số vốn huy động từ cá nhân: 96.354 triệu đồng, trong đó Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định có tổng vốn huy động cao nhất để thực hiện xã hội hóa các dịch vụ y tế là: 71.528 triệu đồng, Bệnh viện Lao và bệnh phổi là đơn vị có vốn huy động thấp nhất là: 41 triệu đồng.
3/ Tình hình thực hành tiết kiệm chi:
Khối tỉnh:
- Số đơn vị tiết kiệm là: 145 đơn vị /161 đơn vị giao tự chủ (đạt tỷ lệ: 9,32%)
- Số kinh phí tiết kiệm được là: 102.150.470.437 đồng, tỷ lệ kinh phí tiết kiệm được so với dự toán được giao là: 9,88 %. Trong đó chi tăng thu nhập cho cán bộ viên chức và người lao động là 70.221.658.806 đồng.
+Đơn vị có tỷ lệ (%) kinh phí tiết kiệm cao nhất là Trung tâm y tế huyện Tây Sơn: 99,69% song hệ số chi tăng thu nhập chỉ đạt: 0,57 (tương ứng 400.000đ/người tháng); 
+Đơn vị có tỷ lệ (%) kinh phí tiết kiệm thấp nhất là Trường Chuyên biệt Hy Vọng Quy Nhơn: 0,11% không chi tăng thu nhập tăng thêm;
+Đơn vị có kinh phí chi thu nhập tăng thêm cao nhất là Phòng Công chứng số 1 với hệ số tăng thu nhập là: 2 lần;
+Đơn vị có kinh phí chi thu nhập tăng thêm thấp nhất là 02 trường: Phổ thông trung học Nguyễn Thái Học và Nguyễn Hữu Quang với hệ số tăng thu nhập là: 0,01 lần;
+ Đơn vị có người có thu nhập tăng thêm cao nhất là Trung tâm đăng kiểm phương tiện thủy, bộ Bình Định:  9.492.000 đ/người/tháng
+ Đơn vị có người có thu nhập tăng thêm thấp nhất là Trường Phổ thông trung học Nguyễn Thái Học:  17.000 đ/người/tháng; Trường Phổ thông trung học Nguyễn Hữu Quang: 28.000 đ/người/tháng.
Khối huyện:
- Kinh phí tiết kiệm được là: 7.094.539.588 đồng
- Đa số các đơn vị có hệ số thu nhập tăng thêm dưới 1 lần, đơn vị có hệ số thu nhập tăng thêm cao nhất là:  huyện Phù Cát.
 4/ Tình hình thu nhập tăng thêm của người lao động:
  Khối tỉnh:
 - Tổng kinh phí chi tăng thu nhập:  70.221.658.806 đồng
 - Số đơn vị không chi thu nhập tăng thêm:  20 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 1 lần:           134 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 1 đến dưới 2 lần:   6 đơn vị
- Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập từ 2 đến dưới 3 lần:   1 đơn vị
5. Những tồn tại, bất cập về cơ chế chính sách:
- Về giao tài sản cho các đơn vị sự nghiệp theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp: Theo quy định tại Luật quản lý tài sản và Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước: Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp và được sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết. Tuy nhiên, việc ban hành Thông tư hướng dẫn về xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp của Bộ Tài chính ban hành quá chậm (Thông tư số 12/2012/TT-BTC ban hành ngày 06/12/2012) cho nên các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ còn hạn chế trong việc sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết.
- Về cơ chế tài chính: Để có cơ sở quản lý về tài chính tự chủ và hiệu quả đòi hỏi phải có hệ thống đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống các văn bản quy định về ngành, lĩnh vực chưa đồng bộ, còn lạc hậu, chậm sửa đổi. Do hệ thống các văn bản hướng dẫn chưa đồng bộ,cho nên trong vận hành và sự phối hợp quản lý giữa các cơ quan tài chính, kho bạc, ngân hàng cũng chưa đồng bộ cho nên đơn vị cũng gặp không ít khó khăn.
- Về huy động vốn trong đơn vị sự nghiệp công lập: Việc huy động vốn có nhiều hình thức, có thể là huy động vốn bằng tiền, bằng hiện vật, hoặc vay vốn, hoặc liên doanh, liên kết ... Hiện nay, Bộ Tài chính chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc huy động vốn trong các đơn vị sự nghiệp công lập, do vậy việc huy động vốn của các đơn vị sự nghiệp công lập gặp nhiều vướng mắc.
- Về bất hợp lý trong việc không khống chế tối đa mức chi thu nhập tăng thêm: Việc không khống chế tối đa mức chi tiền lương tăng thêm đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ hoàn toàn là bất hợp lý là vì:  các đơn vị có số thu lớn, nguồn thu lớn chủ yếu là do cơ chế, chính sách mang lại hoặc do nhu cầu của cộng đồng xã hội lớn ( ví dụ: phí kiểm định phương tiện đường bộ; học phí đào tạo lái xe; nguồn thu quảng cáo trên sóng phát thanh, truyền hình, lệ phí công chứng, ...) thì đơn vị đó có mức chi tiền lương tăng thêm khá lớn, dẫn đến mức thu nhập tăng thêm của cán bộ, viên chức giữa các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn có khoảng cách khá xa. Chẳng hạn, Trung tâm Đăng kiểm phương tiện thủy bộ, nguồn thu là phí kiểm định có số thu khá lơn, đơn vị chi trả thu nhập tăng thêm bình quân hàng năm trên 1,5 lần lương, Phòng Công chứng số tuy số thu để lại không lớn song chi trả thu nhập tăng thêm là 2 lần. Trung tâm Đào tạo nghiệp vụ giao thông, nguồn thu của đơn vị này là học phí đào tạo lái xe có số thu khá lớn, đơn vị thực hiện chi trả thu nhập tiền lương tăng thêm bình quân hàng năm trên 1,7  lần lương;  trong khi đó, mức thu nhập tăng thêm của các đơn vị sự nghiệp công lập khác trên địa bàn, đa số bình quân nằm trong khoảng dưới 0,2 lần lương.
- Về bất cập trong việc chưa phân định, tách bạch rõ các khoản chi phí giữa hoạt động dịch vụ và thực hiện nhiệm vụ của nhà nước giao:  Một số đơn vị, vừa đồng thời thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao, vừa thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ, nên không thể tách bạch rõ về quỹ tiền lương, chi phí quản lý, các khoản chi phí chung, trích khấu hao ( đối với tài sản vừa tham gia hoạt động dịch vụ, vừa tham gia thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao )… dẫn đến việc hạch toán chi phí vào hoạt động dịch vụ không chính xác, có nghĩa là việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp và phân phối lợi nhận sau thuế cũng không chính xác.
- Về phía Bộ: Chưa ban hành được các tiêu chí làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Việc đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị hiện nay vẫn theo cơ chế kế hoạch hoá, nên chưa phản ánh đúng bản chất, chưa đáp ứng đúng mục tiêu của đổi mới. Mặt khác, Bộ chưa thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy, biên chế đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định 43, nên việc giao quyền tự chủ về tài chính chưa đồng bộ với chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, bộ máy, biên chế, nhiệm vụ.
- Theo quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP: đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện quyền tự chủ đối với phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong những năm qua, Chính phủ quy định tiết kiệm 40% đối với phần phí, lệ phí được trích để lại và tiết kiệm 35% đối với viện phí (sau khi trừ chi phí hóa chất, máu, dịch truyền, ...)  để tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương, do vậy đã làm ảnh hưởng đáng kể đến phục vụ hoạt động chuyên môn và giảm nguồn thu nhập tăng thêm cho cán bộ, viên chức.
6/ Kiến nghị:
 Địa phương đề nghị Chính phủ, các Bộ quản lý ngành nghiên cứu, bổ sung sửa đổi những bất hợp lý như đã nêu trên, nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thực hiện được công bằng và phù hợp với thực tiễn. Cụ thể:
- Quy định khống chế tối đa mức chi thu nhập tăng thêm đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo hoàn toàn kinh phí nhằm tạo sự công bằng giữa các đơn vị sự nghiệp công lập.
  - Hướng dẫn phân định, tách bạch rõ các khoản chi phí giữa hoạt động dịch vụ và thực hiện nhiệm vụ của nhà nước giao.
- Ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức bộ máy, biên chế và đối với với lĩnh vực sự nghiệp thuộc ngành, lĩnh vực được quản lý. Quy định, hướng dẫn trách nhiệm của Bộ quản lý ngành, UBND tỉnh và các Sở quản lý ngành, Sở Tài chính, Sở Nội vụ trong việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp.
- Ban hành các tiêu chí cơ bản để làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Hướng dẫn cổ phần hóa thí điểm đối với một số đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện.
- Hướng dẫn, quy định cụ thể về huy động vốn của cán bộ, viên chức; liên doanh, liên kết của các đơn vị sự nghiệp công lập, tỷ lệ phân chia kết quả hoạt động của mô hình liên doanh, liên kết, huy động vốn nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia góp vốn với ngân sách nhà nước.
- Hướng dẫn, quy định cơ chế giám sát, đánh giá đối với các nội dung đã giao quyền tực chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp.
- Quy định thí điểm áp dụng trong các mô hình cung ứng dịch vụ công thuộc từng lĩnh vực hoạt động của đơn vị./.

 


Tin liên quan:

 
  Thứ hai, 22/09/2014

Tin tức nổi bật

Tập huấn công tác lập và thẩm tra quyết toán các dự án, công trình hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước. Tập huấn công tác lập và thẩm tra quyết toán các dự án, công trình hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước.

Công bố quyết định thanh tra tại Chi cục Thú y Bình Định Công bố quyết định thanh tra tại Chi cục Thú y Bình Định

Công bố quyết định thanh tra tại Chi cục Thú y Bình Định Công bố quyết định thanh tra tại Chi cục Thú y Bình Định

Tình hình tồn đọng dự án hoàn thành từ năm 2005 đến nay chưa thực hiện quyết toán

Về quy định nội dung chi, mức chi thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Bình Định

Tình hình quyết toán các dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước

Sở Tài chính tổ chức vui tết trung thu 2014 cho các cháu thiếu nhi Sở Tài chính tổ chức vui tết trung thu 2014 cho các cháu thiếu nhi

Sở Tài chính tổ chức học tập và quán triệt Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) Sở Tài chính tổ chức học tập và quán triệt Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI)

Sở Tài chính tổ chức tập huấn công tác ISO 9001:2008 cho Ban Dự án xây dựng và triển khai thực hiện Hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008

Sự cần thiết ban hành Chỉ thị Tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh Bình Định

Hình ảnh hoạt động

 

 

Bảng giá đất các năm

» Bảng giá đất 2013 - Tỉnh Bình Định
( 22.02.13 )
» Bảng giá đất 2012 - Tỉnh Bình Định
( 11.04.12 )
» Bảng giá đất 2009 - Tỉnh Bình Định
( 14.07.11 )
» Bảng giá đất 2010 - Tỉnh Bình Định
( 14.07.11 )
» Bảng giá đất 2011 - Tỉnh Bình Định
( 14.07.11 )
» Bảng giá đất 2008 - Tỉnh Bình Định
( 14.07.11 )

Liên kết hữu ích